xem cỡ chữ
T
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận mà không có liên hệ thực tiễn là lý luận suông”, “thực tiễn không có lý luận dẫn đường thì thành thực tiễn mù quáng”(1). Trong công tác xây dựng Đảng và quản lý nhà nước, Đảng ta luôn đề cao sự thống nhất giữa tư duy và hành động, giữa tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và nghiên cứu lý luận để vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Quan điểm “lý luận gắn liền với thực tiễn” đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng, góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong sự nghiệp cách mạng.
Kể từ công cuộc đổi mới năm 1986, Đảng ta đã không ngừng tổng kết thực tiễn để phát triển nhận thức lý luận, từng bước hình thành và hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong quá trình đó, nguyên tắc nhất quán là luôn coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Gắn kết tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, định hướng chính sách”(2). Việc kết nối giữa hai hoạt động: tổng kết thực tiễn (đúc kết kinh nghiệm từ quá trình thực hiện đường lối, chính sách) và nghiên cứu lý luận (nghiên cứu khoa học, phát triển tư tưởng, lý thuyết mới) chính là một giải pháp để góp phần không ngừng hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng phù hợp với yêu cầu của cách mạng trong từng giai đoạn.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đi khảo sát Khu Bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Cần Thơ_Ảnh: TTXVN
Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam khẳng định, mục đích của công tác tổng kết “góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới của Đảng; đồng thời chuẩn bị tích cực, chủ động và thiết thực vào việc xây dựng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng”(3). Dự thảo Báo cáo cũng chỉ rõ, Đảng phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận; giữa tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời nhấn mạnh yêu cầu, những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh, nếu chưa được luận giải đầy đủ, thuyết phục thì phải tiếp tục nghiên cứu. Hai hoạt động này có mối quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau, thực tiễn phong phú nuôi dưỡng lý luận, còn lý luận soi đường cho thực tiễn.
Trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, quan điểm “gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật” chứa đựng nội dung phong phú, hàm ý những yêu cầu cụ thể đối với quá trình hoạch định đường lối, chính sách, công tác lập pháp và hành pháp của Nhà nước. Trong đó, tổng kết thực tiễn là hoạt động thu thập, phân tích những kinh nghiệm, bài học từ quá trình triển khai thực tế các chủ trương, chính sách, từ diễn biến thực tiễn kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Việc tổng kết có thể diễn ra ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, thường được thực hiện định kỳ hoặc sau các giai đoạn quan trọng. Mục đích của tổng kết thực tiễn là đánh giá ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp. Nói cách khác, tổng kết thực tiễn là điểm xuất phát để phát triển lý luận. Nghiên cứu lý luận là hoạt động nghiên cứu khoa học, tư duy trừu tượng nhằm phát triển các luận điểm, học thuyết, khung khái niệm làm cơ sở cho nhận thức. Việc nghiên cứu lý luận chủ yếu tập trung vào việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối đổi mới, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Nghiên cứu lý luận có thể diễn ra độc lập ở các viện nghiên cứu, trường đại học hoặc trong các cơ quan tham mưu của Đảng, Nhà nước.
Công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận được tiến hành thường xuyên, đồng bộ và gắn bó chặt chẽ với quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật. Những người làm chính sách, làm luật cần chủ động ghi nhận thông tin phản hồi từ thực tiễn thi hành pháp luật (từ người dân, doanh nghiệp, địa phương, cơ quan thực thi…), hợp tác chặt chẽ với giới nghiên cứu lý luận (các chuyên gia, nhà khoa học) để bảo đảm các quyết định đưa ra có căn cứ khoa học và thực tiễn. Ngược lại, giới nghiên cứu phải bám sát những vấn đề nóng của thực tiễn đất nước, tập trung giải đáp các câu hỏi phát sinh từ thực tiễn.
Yêu cầu đặt ra là phải thiết lập các cơ chế và quy trình hiệu quả để liên thông thông tin giữa thực tiễn - lý luận và chính sách, pháp luật. Trước khi soạn thảo luật hoặc nghị quyết, cần có bước tổng kết, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật liên quan, có báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo đánh giá tác động chính sách dựa trên số liệu và bằng chứng. Đồng thời, tiến hành các hội thảo, tọa đàm khoa học, tư vấn chuyên gia để phân tích, vận dụng các vấn đề lý luận mới nhất.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định, quy trình lập pháp có khâu lấy ý kiến, thẩm định, đánh giá tác động..., tuy nhiên, việc thực hiện quy trình này đôi lúc còn mang tính hình thức. Quan điểm mới hiện nay đòi hỏi thực hiện nghiêm túc và thực chất hơn các bước này, để trở thành kênh kết nối hữu hiệu giữa thực tiễn, khoa học với cơ quan làm luật. Trong quá trình sửa đổi Hiến pháp và sắp xếp đơn vị hành chính (năm 2025), Quốc hội đã tổ chức lấy ý kiến chuyên gia và ý kiến rộng rãi của nhân dân, trên cơ sở đó Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung với sự đồng thuận rất cao.
Công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật là hai hoạt động chính thuộc chức năng lập pháp và hành pháp trong quản lý nhà nước. Đây là những lĩnh vực mà Đảng yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhằm xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Xây dựng pháp luật bao gồm việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng liên quan đến pháp luật và quá trình lập pháp: xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư...). Tại Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, cụm từ “xây dựng pháp luật” đặt trong mệnh đề cùng với “xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước” cho thấy, Đảng ta nhìn nhận việc xây dựng pháp luật không tách rời khỏi quá trình xây dựng đường lối chung. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đồng thời mọi chủ trương lớn của Đảng đều phải thể chế hóa thành pháp luật nhà nước. Xây dựng pháp luật chính là quá trình thể chế hóa đường lối của Đảng thành các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc trong xã hội. Chủ trương của Đảng được cụ thể hóa bằng pháp luật của Nhà nước, ngược lại, khi xây dựng luật, cơ quan lập pháp phải bám sát các định hướng, quan điểm của Đảng để bảo đảm tính đúng đắn về chính trị.
Tuy nhiên, công tác lập pháp nước ta đang đối mặt nhiều thách thức, đòi hỏi một tư duy mới trong xây dựng pháp luật. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu, “chuyển đổi tư duy xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển. Tư duy quản lý không cứng nhắc, dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”(4). Luật pháp phải được thiết kế với tầm nhìn phục vụ phát triển, coi xây dựng pháp luật là đột phá của đột phá trong hoàn thiện thể chế, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Muốn vậy, quy trình xây dựng pháp luật cần đổi mới theo hướng khoa học, chuyên nghiệp và hiệu quả hơn. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, “Về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đặt ra yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, bảo đảm chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả”(5). Cụ thể, các khâu từ lập chương trình xây dựng luật, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thông qua đều phải cải tiến. Chẳng hạn, cần dành nhiều thời gian thảo luận chính sách, nội dung cơ bản của dự án luật, nhất là nội dung còn ý kiến khác nhau; coi trọng giai đoạn tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật - vốn quyết định chất lượng luật; nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan thẩm tra, cơ quan trình dự án, bảo đảm sự tham gia thực chất của các tổ chức, chuyên gia. Đặc biệt, phải tăng cường trách nhiệm của từng cơ quan và nâng cao hiệu quả phối hợp trong quy trình lập pháp, khắc phục tình trạng đùn đẩy, thiếu trách nhiệm dẫn đến luật kém chất lượng. Đồng thời, Đảng nhấn mạnh nguyên tắc then chốt, “bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Ðảng”(6), mọi đổi mới quy trình đều không làm giảm vai trò định hướng chính trị của Đảng, trái lại nhằm thực thi hiệu quả hơn đường lối của Đảng trong pháp luật.
Tổ chức thực hiện pháp luật là toàn bộ công tác triển khai đưa pháp luật vào cuộc sống sau khi luật được ban hành. Điều này bao gồm việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành, phổ biến giáo dục pháp luật, tổ chức bộ máy thực thi (cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp), quá trình áp dụng pháp luật bởi các chủ thể (cán bộ, công chức, tòa án, người dân, doanh nghiệp...). Từ “tổ chức thực hiện” nhấn mạnh vai trò của các cấp chính quyền, các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm minh và hiệu quả. Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, “Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” đã chỉ ra nhiều định hướng quan trọng. Nghị quyết yêu cầu: “Tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật”(7).
Yêu cầu cốt lõi của quan điểm này là, phải thiết lập mối liên hệ hai chiều chặt chẽ giữa khâu lập pháp và hành pháp. Mọi văn bản pháp luật khi xây dựng phải tính đến khả năng và phương thức tổ chức thực hiện (người thực hiện, nguồn lực, lộ trình, dự liệu tình huống…). Trong quá trình thực hiện phải thường xuyên có phản hồi với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách. Bên cạnh đó, phải đưa hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận trở thành một bước không thể thiếu và làm thực chất trong chu trình xây dựng chính sách, pháp luật. Điều này đòi hỏi năng lực phân tích, dự báo phải được nâng cao, như Nghị quyết số 27-NQ/TW, “Về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đã nêu: “Những vấn đề thực tiễn đòi hỏi, đã rõ, được thực tiễn chứng minh là đúng, có sự thống nhất cao thì kiên quyết thực hiện; vấn đề chưa rõ, còn nhiều ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, thực hiện thí điểm...; những chủ trương đã thực hiện, nhưng không phù hợp thì nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi kịp thời”(8).
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình (cũ) giám sát nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Lương Sơn_Ảnh: TTXVN
Để hoàn thiện và bảo đảm việc thực hiện quan điểm gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật bảo đảm hiệu quả, góp phần bổ sung, hoàn thiện Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng, cần quan tâm một số nội dung:
Thứ nhất, Dự thảo Báo cáo chính trị nên bổ sung nội dung về việc thiết lập cơ chế bảo đảm gắn kết giữa tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng, thực thi pháp luật. Dự thảo Văn kiện nên nêu rõ chủ trương xây dựng quy trình lập pháp cải tiến theo hướng: trước mỗi chính sách lớn phải có nghiên cứu tiền khả thi, đánh giá tác động độc lập; sau khi ban hành luật phải có lộ trình, kế hoạch tổ chức thi hành, trong đó xác định rõ theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”. Đồng thời, cần đề ra chủ trương xây dựng bộ chỉ số theo dõi, đánh giá định kỳ việc thi hành các nghị quyết, luật pháp.
Thứ hai, thể chế hóa mạnh mẽ nguyên tắc “những vấn đề chưa rõ phải thí điểm, tổng kết rồi mới nhân rộng”. Dự thảo Báo cáo chính trị cần nhấn mạnh phương châm quản lý mới: "Thực hiện thận trọng, từng bước với những chính sách mới chưa có tiền lệ; mở rộng thực hiện thí điểm được pháp luật cho phép, trên cơ sở đó tổng kết, hoàn thiện và thể chế hóa kịp thời". Hiện nay, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có quy định về thí điểm chính sách mới, nhưng áp dụng còn hạn chế. Báo cáo chính trị có thể nhấn mạnh hơn nữa quy định này để tạo đột phá tư duy, sẵn sàng thử nghiệm cái mới trong khuôn khổ cho phép, đồng thời cũng sẵn sàng loại bỏ những gì không còn phù hợp.
Thứ ba, kiện toàn và phát huy vai trò của các thiết chế tư vấn, nghiên cứu trong quá trình xây dựng pháp luật(9). Quan điểm sẽ được thực hiện tốt hơn nếu thâu thái và sử dụng hiệu quả trí tuệ đội ngũ trí thức, chuyên gia; đổi mới hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận chính trị, viện khoa học chuyên ngành... theo hướng tăng cường nghiên cứu liên ngành, dự báo chiến lược và tham gia sâu vào quá trình tham mưu chính sách, pháp luật. Đồng thời, thúc đẩy hình thành các diễn đàn phản biện chính sách thường xuyên giữa cơ quan nhà nước và nhà khoa học, giữa Trung ương và địa phương. Cần có cơ chế để các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức xã hội, trường đại học... đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật quan trọng. Dự thảo Báo cáo chính trị nên nêu nhiệm vụ “xây dựng mạng lưới chuyên gia tư vấn chính sách, pháp luật ở các lĩnh vực trọng yếu; thiết lập hệ thống trung tâm dữ liệu và phân tích chính sách phục vụ công tác của Quốc hội, Chính phủ”. Đây là bước cụ thể hóa việc “huy động sự tham gia thực chất của giới trí thức” vào quá trình xây dựng và giám sát thực thi nghị quyết, pháp luật, như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã yêu cầu.
Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác pháp luật. Nội dung “quan tâm phát triển nguồn lực cho công tác pháp luật” nên đưa vào Dự thảo Báo cáo chính trị, bao gồm các khâu đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lập pháp, lập quy cho cán bộ các bộ, ngành; xây dựng chế độ tuyển dụng, đãi ngộ để thu hút chuyên gia giỏi về làm chính sách; tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, ý thức thượng tôn pháp luật cho đội ngũ thực thi. Đặc biệt, cần có giải pháp hạn chế tình trạng “lợi ích nhóm” trong xây dựng pháp luật. Có thể đề xuất giao nhiệm vụ “đổi mới công tác cán bộ làm luật, bảo đảm chọn người vừa hồng vừa chuyên, kiên quyết chống tiêu cực, lợi ích nhóm trong quy trình lập pháp”.
Thứ năm, tăng cường sự tham gia của nhân dân và công tác giám sát, phản biện xã hội. Để bảo đảm pháp luật sát thực tiễn và đi vào cuộc sống, không thể thiếu tiếng nói của người dân, doanh nghiệp - những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp. Dự thảo Báo cáo chính trị nên làm rõ hơn vai trò của nhân dân trong chu trình chính sách. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã quy định, nhân dân tham gia ý kiến, phản biện, giám sát đối với hoạt động của cơ quan quyền lực. Đại hội XIII của Đảng cũng chủ trương “phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường kiểm soát quyền lực”. Do đó, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV nên nêu cụ thể thành các giải pháp, như “thể chế hóa và thực hiện đúng đắn cơ chế nhân dân tham gia thảo luận, góp ý kiến vào các dự thảo luật, chính sách; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp; công khai, minh bạch quy trình tiếp thu ý kiến của nhân dân”... Đồng thời, cần tăng cường sự giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, báo chí và người dân đối với quá trình thực thi pháp luật. Cần nêu rõ mục tiêu “đưa hoạt động giám sát, phản biện trở thành khâu quan trọng trong chu trình chính sách, kịp thời phát hiện những hạn chế, sai sót để chấn chỉnh”. Bảo đảm chính sách, pháp luật sau khi ban hành luôn được theo dõi, đánh giá, hiệu chỉnh dựa trên phản hồi thực tế. Đây chính là cụ thể hóa yêu cầu “thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà Dự thảo Văn kiện đã nêu.
Thứ sáu, nhấn mạnh mục tiêu nâng cao hiệu quả phát triển đất nước nhờ thể chế và thực thi vượt trội. Khi bổ sung và hoàn thiện quan điểm, cần tái khẳng định mục tiêu mà quan điểm phục vụ. Đó là xây dựng một hệ thống thể chế “đồng bộ, liên thông giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp; kết hợp hài hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển”. Nói cách khác, mọi đổi mới trong quy trình chính sách đều nhằm “tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”. Dự thảo Báo cáo chính trị cần nêu bật mối quan hệ giữa việc gắn kết lý luận - thực tiễn - pháp luật với việc thúc đẩy các đột phá chiến lược, gắn việc thực hiện quan điểm với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và khát vọng phát triển hùng cường.
Quan điểm “gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật” phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Quan điểm kết nối lý luận - thực tiễn - pháp luật chính là sự bảo đảm để đường lối, chủ trương của Đảng được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và tổ chức thực hiện hiệu quả. Việc quán triệt và thực thi nhất quán quan điểm này, kỳ vọng công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện sẽ được đẩy mạnh, thể chế phát triển được tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới./.
--------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1996, t. 8, tr. 496 - 497
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 182
(3) Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr. 186
(4) GS, TS Tô Lâm: “Đổi mới mạnh mẽ tổ chức, hoạt động của Quốc hội, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả, khẩn trương đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống, giải quyết các vấn đề quan trọng của đất nước, tạo tiền đề, chuẩn bị ngay về mọi mặt đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới", Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 21-10-2024, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-tieu-diem/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/quoc-hoi-tiep-tuc-doi-moi-manh-me-cong-tac-lap-phap-giam-sat-toi-cao-to-chuc-hoat-dong-va-quyet-dinh-cac-van-de-quan-trong-tao-dot-pha-cho-phat-trien-#
(5), (6), (8) Xem: “Toàn văn: Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới", Báo điện tử Chính phủ, ngày 5-12-2022, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-27-nq-tw-tiep-tuc-xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-119221126114455251.htm
(7) Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Báo điện tử Chính phủ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-66-nq-tw-ve-doi-moi-cong-tac-xay-dung-va-thi-hanh-phap-luat-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-dat-nuoc-trong-ky-nguyen-moi-119250502073027466.htm
(9) Nguyễn Thị Tuyết Mai: “Sự phát triển lý luận của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tiến trình đổi mới”, Tạp chí Cộng sản, số 969 (7-2021), tr. 64 - 70
Tag:
Theo www.tapchicongsan.org.vn
Thông báo số 03-TB/HVCTKV I kế hoạch thi bổ sung các lớp CCLLCT hệ không tập trung
Tiếp tục xây dựng Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, phát huy dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp
Bảng phân công nhiệm vụ của cán bộ Ban Kế hoạch tài chính, Học viện Chính trị khu vực I
Tổng quan giới thiệu nội dung cuốn sách "Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết phục vụ trực tiếp cho yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước"
Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Tổng quan giới thiệu nội dung cuốn sách “Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Trung Quốc và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
Tổng quan giới thiệu nội dung cuốn sách “Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc”
Tổng quan giới thiệu nội dung cuốn sách “Ngoại giao chuyên biệt: Hướng đi, ưu tiên mới của ngoại giao Việt Nam đến năm 2030”
Tổng quan giới thiệu nội dung cuốn sách “Chi tiêu quốc phòng của Mỹ: Thách thức vị thế siêu cường”
Tổng quan giới thiệu nội dung cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển con người toàn diện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”
Liên kết website
Thống kê truy cập
Thông tin liên hệ
Địa chỉ: Số 15, đường Khuất Duy Tiến, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Email: ttdt.hvct1@gmail.com
Liên hệ: 024.38543970