Sign In

Đề cao trách nhiệm, chủ động phòng ngừa xuất bản phẩm có dấu hiệu xuyên tạc

  10:39 06/08/2026
Hoạt động xuất bản không chỉ truyền bá tri thức, phát triển văn hóa đọc, mà còn là lĩnh vực tư tưởng quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và củng cố niềm tin xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển của các nền tảng truyền thông, một số xuất bản phẩm gây nhiều tranh luận, đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại trách nhiệm của các chủ thể trong toàn bộ quy trình xuất bản. Thực tiễn đó đòi hỏi quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 04-CT/TW, của Ban Bí thư, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản; đồng thời nâng cao trách nhiệm của các chủ thể nhằm phòng ngừa xuất bản phẩm có dấu hiệu xuyên tạc.

Các bạn trẻ đọc sách tại “Hội sách và Văn hóa đọc thành phố Hà Nội 2026" _Ảnh: laodong.vn

 

Ngày 17-3-2026, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới, khẳng định xuất bản là lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén, giữ vai trò quan trọng trong xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bồi đắp nền tảng tri thức quốc gia, lan tỏa các giá trị văn hóa, định hướng thẩm mỹ và phát triển văn hóa đọc trong xã hội; đồng thời yêu cầu nâng cao chất lượng chính trị, tư tưởng của xuất bản phẩm, tăng cường kiểm tra, hậu kiểm và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng hoạt động xuất bản để tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, văn hóa, chống phá Đảng và Nhà nước. Thực tiễn một số xuất bản phẩm gây tranh luận trong thời gian gần đây cho thấy việc nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản là yêu cầu cấp thiết.

 

Chỉ thị số 04-CT/TW: Siết chặt trách nhiệm, nâng chất lượng xuất bản

 

Xuất bản là lĩnh vực đặc thù, nơi giao thoa giữa tư tưởng, văn hóa, tri thức, công nghệ và thị trường. Mỗi xuất bản phẩm không chỉ là sản phẩm văn hóa - tri thức, mà còn có khả năng tác động đến nhận thức xã hội, định hướng giá trị, bồi đắp niềm tin và hình thành thái độ của công chúng đối với lịch sử dân tộc, chế độ chính trị, con người Việt Nam và các giá trị nền tảng của quốc gia. Vì vậy, trong hoạt động xuất bản, yêu cầu về chất lượng nội dung, bản lĩnh chính trị, chuẩn mực học thuật và trách nhiệm xã hội phải được đặt ngang hàng với yêu cầu đổi mới sáng tạo, phát triển thị trường và hội nhập quốc tế.

 

Thứ nhất, Chỉ thị số 04-CT/TW tiếp tục khẳng định vị trí đặc biệt của xuất bản trong công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Điểm mới quan trọng của Chỉ thị là không nhìn nhận xuất bản chỉ như hoạt động truyền bá tri thức theo nghĩa truyền thống, mà đặt xuất bản trong tổng thể yêu cầu phát triển đất nước ở kỷ nguyên số: Vừa là lĩnh vực tư tưởng sắc bén, vừa là bộ phận của công nghiệp văn hóa, vừa là không gian lan tỏa tri thức, phát triển văn hóa đọc, giao lưu văn hóa và nâng cao "sức mạnh mềm" quốc gia. Cách tiếp cận đó cho thấy, phát triển xuất bản trong tình hình mới không thể tách rời hai nhiệm vụ song hành: Xây dựng ngành xuất bản hiện đại, chuyên nghiệp, nhân văn; đồng thời giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng trong quá trình tạo lập, biên tập, phát hành và tiếp nhận xuất bản phẩm.

 

Thứ hai, Chỉ thị số 04-CT/TW đặt ra yêu cầu cao hơn đối với trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản. Trách nhiệm ấy không chỉ thuộc về cơ quan quản lý nhà nước hay nhà xuất bản, mà còn bao gồm cơ quan chủ quản, cấp ủy, người đứng đầu, đội ngũ biên tập viên, tác giả, đơn vị liên kết, cơ sở phát hành và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực xuất bản. Cần nhấn mạnh rằng, trách nhiệm chính trị trong xuất bản không đồng nghĩa với sự can thiệp hành chính giản đơn vào hoạt động sáng tạo, mà trước hết là trách nhiệm bảo đảm cho tự do sáng tạo, tự do học thuật và hoạt động xuất bản được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc, không bị lợi dụng để truyền bá thông tin sai trái, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, xâm hại nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

Thứ ba, quán triệt Chỉ thị số 04-CT/TW đòi hỏi nhận diện đầy đủ những thách thức mới của môi trường xuất bản số. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, xuất bản điện tử, sách nói, nền tảng xuyên biên giới và các mô hình tự xuất bản đã làm thay đổi sâu sắc quy trình sáng tạo, biên tập, phát hành và tiếp nhận xuất bản phẩm. Những biến đổi đó mở ra cơ hội lớn cho ngành xuất bản, nhưng cũng tạo ra rủi ro mới: Nội dung sai lệch có thể được ngụy trang dưới danh nghĩa học thuật, sáng tạo, giải trí hoặc thông tin đa chiều; xuất bản phẩm có vấn đề có thể lan truyền nhanh trên môi trường số; còn cơ chế hậu kiểm truyền thống nhiều khi không theo kịp tốc độ phát tán của thông tin.

 

Thứ tư, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản phải được cụ thể hóa thành cơ chế quản lý hiệu quả. Muốn không để lọt xuất bản phẩm có dấu hiệu xuyên tạc, cần chuyển mạnh từ tư duy xử lý sau vi phạm sang tư duy phòng ngừa, phát hiện sớm, quản lý nhiều tầng và xử lý kịp thời ngay trong quy trình xuất bản. Nói cách khác, xuất bản cần được nhìn nhận như một chuỗi trách nhiệm liên hoàn, trong đó mỗi khâu - từ lựa chọn bản thảo, biên tập, thẩm định, cấp quyết định xuất bản, phát hành đến hậu kiểm - đều phải có cơ chế quản lý tương ứng. Đây là tiền đề để hoạt động xuất bản vừa phát triển lành mạnh, hiện đại, hội nhập, vừa giữ vững vai trò là một mặt trận tư tưởng quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

Những xuất bản phẩm gây tranh luận và bài học thực tiễn

 

Thứ nhất, cần phân định rõ ranh giới giữa tự do học thuật, sáng tạo với hành vi lợi dụng học thuật, sáng tạo để làm sai lệch nhận thức lịch sử. Tự do học thuật, tự do sáng tạo là điều kiện quan trọng để khoa học, văn học, nghệ thuật và hoạt động xuất bản phát triển. Tuy nhiên, tự do học thuật không đồng nghĩa với tùy tiện học thuật; phản biện khoa học không đồng nghĩa với phủ nhận sự thật lịch sử; sáng tạo văn học, nghệ thuật không thể tách rời trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân và lợi ích quốc gia - dân tộc. Một tác phẩm chân chính phải dựa trên chứng cứ, phương pháp khoa học, kiểm chứng nguồn tư liệu, phân biệt sự kiện với suy luận, giả thuyết với kết luận. Ngược lại, việc sử dụng tư liệu phiến diện, cắt rời bối cảnh lịch sử, suy diễn chủ quan hoặc đánh tráo khái niệm có thể tạo ra nhận thức sai lệch, nhất là đối với lịch sử dân tộc, lãnh tụ, chiến tranh cách mạng và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ.

 

Trong hoạt động xuất bản, ranh giới này càng cần được nhận diện đầy đủ. Xuất bản phẩm khi đã được biên tập, cấp quyết định xuất bản, phát hành thì không còn là ý kiến cá nhân thuần túy của tác giả, mà trở thành sản phẩm văn hóa - tri thức được một thiết chế xuất bản bảo đảm về mặt quy trình. Vì vậy, nếu một xuất bản phẩm gây băn khoăn trong dư luận, câu hỏi đặt ra không chỉ là tác giả viết gì, mà còn là quy trình biên tập, thẩm định, xuất bản đã vận hành ra sao.

 

Thứ hai, từ một số xuất bản phẩm gây tranh luận thời gian gần đây, như cuốn “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” hay cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” có thể nhận diện khoảng trống trong quản lý hoạt động xuất bản. Điều cần nhấn mạnh: Vì sao một bản thảo có thể gây tranh luận lớn về lịch sử, lãnh tụ, hình tượng người chiến sĩ cách mạng vẫn đi qua quy trình xuất bản, phát hành hoặc xét chọn, tôn vinh? Đây là điểm cần được nhìn nhận từ góc độ trách nhiệm của các chủ thể trong toàn bộ chuỗi xuất bản.

 

Thứ ba, thực tiễn đó đặt ra yêu cầu nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản theo hướng phòng ngừa từ sớm, từ xa. Nếu chỉ dựa vào hậu kiểm sau khi xuất bản phẩm đã phát hành rộng rãi thì cơ quan quản lý và nhà xuất bản thường chỉ vào cuộc khi dư luận xã hội đã xuất hiện nhiều ý kiến băn khoăn, tranh luận; trong khi đó, những tác động đến nhận thức của một bộ phận công chúng đã hình thành và khó khắc phục hoàn toàn, nhất là trong môi trường số, nơi thông tin có thể lan truyền nhanh, bị cắt ghép, diễn giải lại và khuếch đại. Vì vậy, quản lý hoạt động xuất bản không nên hiểu giản đơn là “siết chặt” hay hạn chế sáng tạo, mà là xây dựng cơ chế bảo đảm cho sáng tạo, học thuật và xuất bản vận hành đúng chuẩn mực chính trị, pháp lý, học thuật và đạo đức nghề nghiệp.

 

Theo tinh thần Chỉ thị số 04-CT/TW, yêu cầu nâng cao chất lượng chính trị, tư tưởng của xuất bản phẩm, tăng cường kiểm tra, hậu kiểm và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng hoạt động xuất bản để tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, văn hóa, chống phá Đảng và Nhà nước phải được cụ thể hóa thành trách nhiệm của từng khâu, từng chủ thể trong quy trình xuất bản. Bài học từ thực tiễn không chỉ là cần xử lý khi có sai phạm, mà quan trọng hơn là xây dựng cơ chế để những xuất bản phẩm có dấu hiệu xuyên tạc không dễ dàng lọt qua các tầng lựa chọn bản thảo, biên tập, thẩm định, cấp quyết định xuất bản, phát hành và hậu kiểm.

 

Trách nhiệm của các chủ thể - lá chắn phòng ngừa xuất bản phẩm có dấu hiệu xuyên tạc

 

Để phòng ngừa xuất bản phẩm có dấu hiệu xuyên tạc, điều quan trọng không chỉ là xử lý kết quả mà phải quản lý chặt chẽ từng khâu của quy trình xuất bản. Theo tinh thần Chỉ thị số 04-CT/TW, trách nhiệm đó thuộc về tất cả các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản, từ tác giả, nhà xuất bản đến cơ quan quản lý nhà nước.

 

Thứ nhất, tác giả là chủ thể đầu tiên quyết định chất lượng chính trị, khoa học và giá trị xã hội của xuất bản phẩm. Tự do nghiên cứu, tự do sáng tạo là điều kiện cần thiết để khoa học, văn học, nghệ thuật phát triển; song, tự do đó phải gắn với đạo đức học thuật, trung thực khoa học và trách nhiệm xã hội. Đối với những bản thảo liên quan đến lịch sử dân tộc, lãnh tụ, chiến tranh cách mạng, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ hoặc nền tảng tư tưởng của Đảng, yêu cầu này càng phải được đặt ra nghiêm ngặt hơn.

 

Đạo đức học thuật trước hết thể hiện ở việc tôn trọng sự thật, kiểm chứng nguồn tư liệu, phân biệt rõ sự kiện với suy luận, giả thuyết với kết luận, nhận định cá nhân với tri thức đã được kiểm nghiệm. Người viết không thể lấy giai thoại thay cho chứng cứ, lấy cảm xúc chủ quan thay cho phân tích khoa học hoặc cắt rời sự kiện khỏi bối cảnh lịch sử để dẫn dắt người đọc đến những kết luận sai lệch. Trung thực khoa học vì vậy không chỉ là chuẩn mực nghề nghiệp, mà còn là trách nhiệm chính trị - xã hội, nhất là khi xuất bản phẩm có khả năng tác động đến nhận thức của công chúng.

 

Bên cạnh đó, tác giả cần ý thức rằng khi bản thảo được xuất bản, nó không còn là phát ngôn cá nhân đơn lẻ, mà trở thành một sản phẩm văn hóa - tri thức có khả năng lan tỏa xã hội. Vì vậy, ý thức tự kiểm soát, tự phản biện và tự chịu trách nhiệm của tác giả là lớp "màng lọc" đầu tiên trong cơ chế phòng ngừa nhiều tầng của hoạt động xuất bản.

 

Về phương diện quản trị, trách nhiệm của tác giả cần được cụ thể hóa bằng cơ chế cam kết và giải trình ngay từ khi nộp bản thảo: Cam kết về tính xác thực của tư liệu, nguồn trích dẫn, quyền sở hữu trí tuệ, phương pháp tiếp cận và phạm vi diễn giải. Đối với bản thảo thuộc nhóm đề tài nhạy cảm về lịch sử, văn hóa, chính trị, cần có bản thuyết minh nguồn tư liệu, cơ sở lập luận và giới hạn nhận định để biên tập viên, nhà xuất bản có căn cứ thẩm định. Cách làm này không làm giảm quyền sáng tạo của tác giả, mà giúp tự do học thuật được đặt trên nền tảng của trách nhiệm, minh bạch và chuẩn mực khoa học, phù hợp với yêu cầu của Luật Xuất bản năm 2012 về trách nhiệm của tác giả, nhà xuất bản và các chủ thể liên quan trong hoạt động xuất bản.

 

Thứ hai, nhà xuất bản và đội ngũ biên tập là lớp "màng lọc" trung tâm trong quy trình xuất bản. Nếu tác giả là chủ thể tạo lập bản thảo thì nhà xuất bản là chủ thể chịu trách nhiệm tổ chức, biên tập, thẩm định và quyết định đưa bản thảo đó trở thành xuất bản phẩm. Do đó, nhà xuất bản không thể chỉ đóng vai trò “trung chuyển” bản thảo ra thị trường, càng không thể đẩy toàn bộ trách nhiệm nội dung cho tác giả. Trách nhiệm chính trị, pháp lý và nghề nghiệp của nhà xuất bản bắt đầu từ khâu lựa chọn bản thảo, đánh giá tính phù hợp về nội dung, xác định mức độ nhạy cảm của đề tài và tổ chức biên tập, thẩm định tương ứng.

 

Đối với những bản thảo liên quan đến lịch sử dân tộc, lãnh tụ, chiến tranh cách mạng, chủ quyền, dân tộc, tôn giáo hoặc các vấn đề có thể tác động sâu rộng đến nhận thức xã hội, quy trình biên tập không thể dừng ở việc sửa câu chữ, kỹ thuật trình bày hay chuẩn hóa hình thức xuất bản. Biên tập viên phải thực sự là “người gác cổng” về nội dung, có khả năng phát hiện các dấu hiệu sai lệch trong tư liệu, lập luận, cách diễn giải và hệ giá trị được truyền tải. Khi cần thiết, nhà xuất bản phải tổ chức thẩm định chuyên gia, lấy ý kiến nhà khoa học, cơ quan chuyên môn hoặc hội đồng phản biện phù hợp, nhất là với các bản thảo có tính nhạy cảm chính trị - lịch sử.

 

Để lớp "màng lọc" trung tâm này vận hành hiệu quả, nhà xuất bản cần xây dựng quy trình phân loại rủi ro đối với bản thảo. Bản thảo thông thường có thể áp dụng quy trình biên tập tiêu chuẩn; bản thảo liên quan đến lịch sử, lãnh tụ, chiến tranh cách mạng, chủ quyền, dân tộc, tôn giáo hoặc các vấn đề dễ tác động đến nhận thức xã hội phải được đưa vào diện thẩm định tăng cường. Trong diện này, cần có phiếu đánh giá rủi ro nội dung, ý kiến phản biện của chuyên gia độc lập khi cần thiết, biên bản xử lý ý kiến phản biện và trách nhiệm phê duyệt cuối cùng của người đứng đầu. Đây là cách chuyển từ thẩm định cảm tính sang thẩm định dựa trên tiêu chí, hồ sơ và trách nhiệm giải trình.

 

Trách nhiệm của người đứng đầu nhà xuất bản cũng cần được đặt ở vị trí trung tâm. Giám đốc, tổng biên tập, lãnh đạo phụ trách nội dung không chỉ chịu trách nhiệm quản trị đơn vị, mà còn chịu trách nhiệm về định hướng chính trị, chất lượng tư tưởng và chuẩn mực nghề nghiệp của xuất bản phẩm. Một quy trình biên tập lỏng lẻo, thẩm định hình thức hoặc chạy theo yếu tố thị trường, dư luận, doanh thu đều có thể tạo ra khe hở để xuất bản phẩm có dấu hiệu lệch chuẩn lọt qua quy trình.

 

Đồng thời, cần coi biên tập viên không chỉ là người chỉnh sửa kỹ thuật văn bản, mà là chủ thể thẩm định tri thức ở tuyến đầu. Vì vậy, trong nội bộ nhà xuất bản cần chuẩn hóa quy tắc nghề nghiệp đối với biên tập viên: Kiểm chứng nguồn, đối chiếu bối cảnh, phát hiện dấu hiệu cắt xén tư liệu, nhận diện các thao tác đánh tráo khái niệm, cảnh báo những luận điểm có khả năng gây hiểu sai. Với các bản thảo có nội dung chuyên sâu, biên tập viên phải được trao quyền đề xuất dừng, trả lại, yêu cầu chỉnh sửa hoặc đưa ra hội đồng thẩm định. Cơ chế này vừa bảo vệ nhà xuất bản, vừa bảo vệ chính biên tập viên trước áp lực thương mại, quan hệ cá nhân hoặc yêu cầu phát hành nhanh.

 

Trong điều kiện liên kết xuất bản, trách nhiệm này càng phải được nhận diện rõ hơn. Liên kết là phương thức huy động nguồn lực xã hội cho hoạt động xuất bản, nhưng không thể làm mờ vai trò chủ thể chịu trách nhiệm chính của nhà xuất bản. Không được để thương mại hóa lấn át trách nhiệm chính trị; không được để đối tác liên kết chi phối quy trình biên tập, thẩm định, quyết định xuất bản. Quán triệt Chỉ thị số 04-CT/TW chính là yêu cầu đặt lại chuẩn mực trách nhiệm đối với nhà xuất bản và đội ngũ biên tập trong toàn bộ chuỗi tạo lập xuất bản phẩm.

 

Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước và cơ chế hậu kiểm có trách nhiệm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý cuối cùng của hệ thống xuất bản. Trong hoạt động xuất bản, quản lý nhà nước không chỉ là cấp phép, tiếp nhận lưu chiểu hay xử lý vi phạm sau khi vụ việc phát sinh, mà còn là thiết lập khuôn khổ pháp lý, hướng dẫn nghiệp vụ, thanh tra, kiểm tra và tạo cơ chế phối hợp để phòng ngừa rủi ro từ sớm, từ xa.

 

Thực tiễn cho thấy, nếu hậu kiểm chỉ vận hành khi dư luận xã hội đã xuất hiện nhiều băn khoăn, tranh luận thì tác động về nhận thức đã có thể lan rộng, nhất là trong môi trường số. Vì vậy, hậu kiểm cần được hiểu là một cơ chế chủ động, thường xuyên, có khả năng phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm, yêu cầu giải trình, tạm dừng phát hành, thu hồi hoặc xử lý trách nhiệm khi cần thiết. Cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường thanh tra, kiểm tra các khâu dễ phát sinh rủi ro, nhất là liên kết xuất bản, xuất bản điện tử, phát hành trên nền tảng số và các xuất bản phẩm liên quan đến lịch sử, chính trị, tư tưởng.

 

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò giám sát của xã hội, báo chí, giới khoa học, tổ chức nghề nghiệp và bạn đọc. Những phản ánh từ đời sống xã hội là kênh thông tin quan trọng giúp cơ quan quản lý phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường. Tuy nhiên, giám sát xã hội chỉ phát huy hiệu quả khi được kết nối với một cơ chế tiếp nhận, phân loại, xác minh và xử lý minh bạch, kịp thời. Như vậy, trách nhiệm quản lý nhà nước không tách rời trách nhiệm xã hội của cộng đồng xuất bản, mà cần được tổ chức thành một cơ chế phối hợp nhiều tầng, nhiều chủ thể, nhằm bảo đảm mọi xuất bản phẩm trước và sau khi phát hành đều được quản lý phù hợp với yêu cầu chính trị, pháp lý và đạo đức nghề nghiệp.

 

Từ góc độ thể chế, cần phát huy vai trò của Hội Xuất bản Việt Nam như một thiết chế xã hội - nghề nghiệp tham gia truyền dẫn chính sách, đại diện tiếng nói ngành và kiến tạo năng lực cho đội ngũ làm xuất bản. Các tài liệu góp ý sửa đổi Luật Xuất bản gần đây cũng cho thấy yêu cầu luật hóa rõ hơn vai trò của Hội trong tham gia phản biện chính sách, bảo vệ bản quyền, bồi dưỡng nghề nghiệp, kết nối chuyên gia và hỗ trợ nâng cao chất lượng xuất bản phẩm. Nếu được thể chế hóa đầy đủ, Hội Xuất bản có thể trở thành một kênh hỗ trợ quan trọng cho cơ chế giám sát, thẩm định nhiều tầng: Không thay thế quản lý nhà nước, nhưng bổ sung nguồn lực chuyên môn, nghề nghiệp và giám sát xã hội trong hoạt động xuất bản.

 

Một hướng cần được quan tâm là ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ thẩm định chất lượng xuất bản phẩm. AI không thay thế thẩm định chính trị, chuyên môn và trách nhiệm của con người, nhưng có thể hỗ trợ phát hiện đạo văn, trích dẫn bất thường, nguồn tư liệu thiếu tin cậy, nội dung lặp lại, dấu hiệu cắt ghép hoặc mâu thuẫn trong lập luận. Cùng với đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia, cơ sở dữ liệu xuất bản phẩm, dữ liệu bản quyền và cơ chế tiếp nhận phản ánh trực tuyến để phục vụ hậu kiểm. Chỉ thị số 04-CT/TW đã đặt ra yêu cầu phát triển xuất bản điện tử, ứng dụng chuyển đổi số và xây dựng hạ tầng dữ liệu xuất bản số dùng chung; vì vậy, quản lý chất lượng trong môi trường số cũng phải được hiện đại hóa tương ứng.

 

Tóm lại, quán triệt Chỉ thị số 04-CT/TW đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản, đồng thời hoàn thiện các điều kiện bảo đảm để trách nhiệm đó được thực hiện hiệu quả trong toàn bộ quá trình xuất bản. Thực tiễn một số xuất bản phẩm gây tranh luận cho thấy, nếu chỉ xử lý sau khi sự việc phát sinh thì những tác động đến nhận thức xã hội đã có thể lan rộng, nhất là trong môi trường số. Vì vậy, yêu cầu căn bản là chuyển từ tư duy hậu kiểm đơn tuyến sang tư duy phòng ngừa nhiều tầng, ngay từ bản thảo, biên tập, thẩm định, quyết định xuất bản, phát hành đến hậu kiểm và giám sát xã hội.

Trong kỷ nguyên số, sức mạnh của hoạt động xuất bản không chỉ được đo bằng số lượng xuất bản phẩm hay quy mô thị trường, mà còn bằng khả năng lan tỏa tri thức đúng đắn, bồi đắp niềm tin, bảo vệ sự thật lịch sử và củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng. Nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản theo tinh thần Chỉ thị số 04-CT/TW vì thế là giải pháp quan trọng để xây dựng nền xuất bản Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, nhân văn, phát triển bền vững và có trách nhiệm với xã hội./.

--------------------

(1) Lê Thế Cương: “Không thể nhân danh ‘phản biện’, ‘khai phóng’ để xuyên tạc lịch sử, lãnh tụ”, Báo Công an nhân dân điện tử, https://cand.vn/khong-the-nhan-danh-phan-bien-khai-phong-de-xuyen-tac-lich-su-lanh-tu-post815620.html, ngày 02-7-2026

(2) Xem: “Nỗi buồn chiến tranh ra khỏi danh sách 50 tác phẩm xuất sắc sau thống nhất”, VnExpress, https://vnexpress.net/noi-buon-chien-tranh-ra-khoi-danh-sach-50-tac-pham-xuat-sac-sau-thong-nhat-5003595.html, ngày 9-1-2026


Tag:

Theo tapchicongsan.org.vn

Alternate Text

  • Địa chỉ: Số 15, đường Khuất Duy Tiến, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

  • Email: ttdt.hvct1@gmail.com

  • Liên hệ: 024.38543970