Thuốc là và tác hại tới hệ hô hấp

14/12/2021 08:38 AM


Phục vụ hội nghị tuyên truyền phòng chống tác hại thuốc lá tại Học viện Chính trị khu vực I

 

THUỐC LÁ VÀ TÁC HẠI TỚI HỆ HÔ HẤP

 

Bài tuyên truyền Phòng chống tác hại của thuốc lá

Nguồn : Tổng hợp từ các bài viết của GS,TS Ngô Quý Châu (2021), Liên quan giữa thuốc lá và bệnh ung thư phổi, Tạp chí Y học Việt Nam tập 507 – tháng 10 – Số 2 -2021; Đinh Ngọc Sỹ (2021), Tác hại của khói thuốc lá với hệ hô, Tạp chí Y học Việt Nam tập 507 – tháng 10 – Số 2 -2021

  1. THUỐC LÁ VÀ SỬ DỤNG THUỐC LÁ

Như chúng ta đã biết, thuốc lá là một sản phẩm được dùng trong đời sống của loài người từ rất xa xưa. Trải qua nhiều thế kỉ, cùng với sự thay đổi của khoa học - công nghệ cũng như nhu cầu cuộc sống, khiến cho thuốc lá đã thay đổi không ngừng về chất lượng cũng như chủng loại, mẫu mã cũng như hình thái sử dụng. Mặc dù hiểu biết của con người về những tác động có hại của thuốc lá đã rõ ràng, song thuốc lá vẫn tồn tại như một phần không thể thiếu trong cuộc sống xã hội. Tại sao vậy? Có 2 lí giải cho sự tồn tại đó. Trước tiên phải nói đến đó là nhu cầu của người sử dụng thuốc lá do một số chất gây nghiện có trong thành phần khói thuốc lá (nicotin) khiến con người lệ thuộc vào nó. Thứ đến là do nguồn lợi khổng lồ mang tới từ ngành công nghiệp thuốc lá. Sự gặp nhau của 2 lí do này khiến cho thuốc lá-mặc dù đã biết là có hại tới sức khỏe con người- vẫn tồn tại mà chưa thể nào khắc phục được.

Thuốc lá là một loại cây có độc, nhất là những lá già, có hàm lượng Nicotin cao. Theo quy định tại Điểm 1 Điều 2 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá, thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác.

Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá (Theo quy định tại Điểm 2 Điều 2 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá).

II. KHÓI THUỐC VÀ CÁC CHẤT CÓ TRONG KHÓI THUỐC:

Khói thuốc lá có chứa rất nhiều chất độc hại cho người hút và ngay cả cho người không hút (hít phải khói thuốc lá). Trong hơn 7000 chất có trong khói thuốc lá, ít nhất có khoảng 250 chất gây hại cho sức khỏe, gồm cả hydrogen cyanide, carbon monoxide, and ammonia(1).

Các chất độc hại trong khói thuốc lá sẽ phá hủy biểu mô phế quản, làm rối loạn vận động lông chuyển của tế bào niêm mạc phế quản, làm tăng tiết nhầy của các tuyến, kích thích bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu protein, gây viêm mạn tính phế quản. Hệ thống lông chuyển bị đứt, gãy, vận động không đồng bộ. Trên kính hiển vi điện tử, người ta quan sát thấy những mảng lông chuyển bị xoắn vặn , đẩy dạt xuống giống như thảm lúa bị gió xoáy lốc, mất hướng chuyển động nhịp nhàng. Các tế bào hình đài tăng sinh, phì đại, tăng tiết nhầy và thành phần hóa học của chất nhầy phế quản bị biến đổi, làm thay đổi độ dính nhớt, khiến nhiều đờm nhưng khó khạc.(4) Các tổn thương đó làm dầy thành phế quản, làm lòng phế quản hẹp lại (chỉ số bề dầy của tuyến phế quản/bề dày thành phế quản tăng (chỉ số Reid bình thường = 0,4). Những rối loạn đó là cơ sở cho hàng loạt rối loạn bệnh lý có thể xảy ra với bộ máy hô hấp

III. MỘT SỐ BỆNH CỦA HỆ HÔ HẤP CÓ LIÊN QUAN ĐẾN KHÓI THUỐC

Có thể nói khói thuốc lá cùng với nhiều hóa chất độc hại sẽ kích hoạt hàng loạt cơ chế phát sinh nhiều bệnh lí mạn tính có liên quan đến thuốc lá, song hai bệnh hay gặp nhất và gây hậu quả nặng nề nhất, đó là:

  • Ung thư phổi. Khói thuốc lá là yếu tố nguy cơ đầu tiên, tại Mĩ có tới 80-90% tỷ lệ tử vong do ung thư phổi có liên quan tới thuốc lá. Những người hút thuốc lá mắc ung thư phổi hoặc chết do ung thư cao gấp 15-30 lần so với người không hút. Trong số 250 hóa chất có hại trong khói thuốc lá, có ít nhất 69 loại có thể gây ung thư, trong đó phải kể đến một số chất như Acetaldehyde, Aromatic amines, Arsenic, Benzene, Beryllium, Ethylene oxide, Formaldehyde(5). Tỷ lệ mắc bệnh có liên quan mật thiết tới mức độ và thời gian hút. Thời gian hút càng lâu thì nguy cơ mắ c bệnh càng cao. Áp dụng cách tính số bao thuốc lá (20 điếu) tiêu thụ trong 1 ngày cùng v ới thời gian (năm) hút cho thấy những ngườ i có chỉ số tiêu th ụ hơn 20 bao-năm (mỗi ngày 1 bao và trong 20 năm) là nhóm có nguy cơ ung thư phổi cũng như các bệnh mạn tính khác cao nhất. Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu của những t ử vong do ung thư trên toàn cầu. Triệu ch ứng sớm có thể là ho, đau ngực, sụt cân, đôi khi ho ra máu. Chẩn đoán được xác định bằng Xquang hoặc CTscanner và sinh thiết phổi (Hình 1, 2).

 

Hình 1. Tổn thương trên CT Scan.    Hình 2. Tổn thương vi thể Carcinoma phổi

 

Ung thư phổi là căn bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu trong số các bệnh ung thư ở cả hai giới. Theo điều tra của Tổ chức nghiên cứu toàn cầu về ung thư (GLOBOCAN) năm 2020 thì số ca mắc mới ung thư phổi trong một năm là 2.206.771 đứng thứ hai chỉ sau ung thư vú và số ca tử vong trong một năm vì ung thư phổi là 1.796. 144 đứng ở vị trí hàng đầu trong tử vong vì ung thư.

Hút thuốc lá là nguyên nhân chủ yếu gây ung thư phổi, cứ 10 ca mắc ung thư phổi thì có 9 ca là có liên quan đến hút thuốc lá.

 

Hình 3. Hình ảnh khối u phổi trái

Các phân tích hóa học cho thấy trong khói thuốc lá tồn tại trên 7000 loại hóa chất tồn tại dưới hai dạng: dạng hạt và dạng khí . Nhiều thực nghiệm trên súc vật đã chứng minh thành phần hạt của khói thuốc lá là chất gây ung thư ở đường hô hấp và các tổ chức khác. Có 69 chất trong khói thuốc lá đã được chứng minh là nguyên nhân gây ung thư, chủ yếu là các chất thơm có vòng như Benzopyren, nitrosamin, arsenic, nickel, chrom các đồng vị phóng xạ...

Các chất này tác động lên niêm mạc đường hô hấp gây nên tình trạng viêm mạn tính, phá hủy tổ chức và biến đổi tế bào dẫn đến ác tính hóa.

Các bằng chứng khoa học từ giữa thế kỷ 20 đã cho thấy mối liên quan đáng kể giữa hút thuốc lá chủ động và ung thư phổi. Nghiên cứu của Doll và Hill năm 1954 ở Anh cho thấy những người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi cao gấp 14 lần so với người không hút thuốc lá. Năm 1986, cơ quan nghiên cứu quốc tế về ung thư khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thuốc lá và ung thư đã đưa ra kết luận hút thuốc là nguyên nhân nổi bật của ung thư phổi trên toàn thế giới. Không  chỉ  hút  thuốc  lá  chủ  động  mà  hút thuốc thụ động cũng gây ung thư phổi ở những người  lớn  chưa  bao  giờ  hút  thuốc.  Việc  phơi nhiễm với khói thuốc ở nhà hoặc nơi làm việc làm tăng nguy cơ ung thư phổi lên 20-30%. Mỗi năm  hút  thuốc  lá  thụ  động  gây  ra  hơn  7300 trường hợp tử vong do ung thư phổi ở người không hút thuốc tại Mỹ.

Nguy cơ phát triển ung thư phổi gia tăng với thời gian hút thuốc lá và số lượng thuốc lá hút hàng ngày. Không có ngưỡng hút thuốc mà việc phơi nhiễm không có rủi do. Các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khả năng phát triển ung thư phổi ở người hút thuốc lá bao gồm tuổi bắt đầu hút thuốc, mức độ hít khói thuốc, hàm lượng nicotine và nhựa thuốc lá (tar) và việc sử dụng thuốc lá không đầu lọc. Tỷ lệ nguy cơ tương đối xuất hiện ung thư phổi giữa người hút thuốc và không hút thuốc là 15 nói chung và là 25 đối với người nghiện thuốc lá nặng. Nguy cơ tích luỹ ung thư phổi ở những người nghiện thuốc lá nặng có thể tới 30% khi so sánh với nguy cơ 1% hoặc thấp hơn ở những người không hút thuốc bao giờ.

Việc cai thuốc lá giúp giảm nguy cơ phát triển ung thư phổi so với tiếp tục hút thuốc, nguy cơ ngày càng giảm hơn khi thời gian duy trì cai thuốc càng dài. Tuy nhiên, thậm chí sau một thời gian cai thuốc dài, nguy cơ ung thư phổi ở những người đã từng hút thuốc vẫn cao hơn so với những người không bao giờ hút thuốc.

Nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy việc cai thuốc lá sau khi chẩn đoán ung thư phổi có liên quan với việc cải thiện sức khỏe. Trong một tổng quan hệ thống phân tích gộp, việc tiếp tục hút thuốc ở những bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi giai đoạn sớm hoặc giai đoạn khu trú có liên quan với sự gia tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, tái phát ung thư, và sự phát triển một ung thư nguyên phát ở cơ quan khác.

Cai thuốc lá giúp giảm nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật ung thư phổi. Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đã cho thấy tỷ lệ sống sót ở tuần thứ 120 sau phẫu thuật ung thư phổi không tế bào nhỏ ở những người không hút thuốc và đã cai thuốc là 60 -70% so với chỉ 25% ở những người tiếp tục hút thuốc. Có nhiều giải thích cho sự khác biệt này bao gồm cả sự gia tăng biến chứng từ điều trị, tái phát ung thư và sự xuất hiện các khối u mới. Cai thuốc sớm hơn thì tốt hơn, với mỗi tuần cai thuốc sớm hơn sẽ giảm nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật thêm 19%.

Cai thuốc lá cũng giúp cải thiện đáp ứng của bệnh nhân ung thư phổi với điều trị hóa chất và xạ trị. Hút thuốc lá ảnh hưởng đến chuyển hóa thuốc. Thuốc ức chế thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) erlotinib được chuyển hóa ở mức độ cao hơn ở những người hút thuốc do sự kích thích của enzym cytochrome P450, CYP1A1/1A2. Những người hút thuốc mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ có ít đột biến EGFR kích hoạt hơn và những thay đổi gen điều khiển anaplastic lymphoma kinase làm giảm khả năng đáp ứng với các thuốc ức chế EGFR. Một nghiên cứu trên 83 bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ được điều trị xạ trị, hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ độc lập cho sự tiến triển viêm phổi sau xạ trị và nhiễm trùng phổi. Tỷ lệ sống trung bình và sống sau 2 năm cũng lâu hơn ở những người không hút thuốc.21 Cai thuốc lá cũng giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và bậc thang thể trạng ở những người hút thuốc mắc ung thư phổi. Mặc dù việc cai thuốc đóng vai trò rất quan trọng đối với những người hút thuốc mắc ung thư phổi, tuy nhiên có khoảng 10-13% bệnh nhân vẫn tiếp tục hút thuốc ở thời điểm 6 tháng sau khi chẩn đoán ung thư phổi. Điều trị cai nghiện thuốc lá cho những bệnh nhân mắc ung thư phổi cần kết hợp tư vấn thay đổi hành vi với thuốc điều trị hỗ trợ cai nghiện thuốc lá và theo dõi thường được kết hợp với các lần thăm khám điều trị bệnh, nội dung tư vấn được thiết kế cụ thể để tăng cường sự tự tin cai thuốc, giảm trầm cảm, giúp bệnh nhân tăng khả năng cai thuốc lá thành công.

Tóm lại, hút thuốc lá chủ động và thụ động là nguyên nhân chủ yếu gây ung thư phổi. Người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi cao gấp 15- 25 lần so với người không hút. Hút thuốc lá càng nhiều năm, số lượng thuốc lá hút càng nhiều thì nguy cơ mắc ung thư phổi càng lớn. Việc cai thuốc lá giúp giảm nguy cơ phát triển ung thư phổi, giảm nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật ung thư phổi, cải thiện đáp ứng của bệnh nhân ung thư phổi với điều trị hóa chất và xạ trị. Vì vậy cần điều trị cai nghiện thuốc lá cho tất cả những người nghiện thuốc là và những bệnh nhân mắc ung thư phổi cũng như các bệnh khác liên quan thuốc lá.

  • Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease-COPD) là tình trạng bệnh lý biểu hiện bằng triệu chứng hô hấp mạn tính và tắc nghẽn lưu thông khí không hồi phục hoàn toàn. Nền tảng bệnh học COPD là viêm mạn tính, phá hủy và biến đổi cấu trúc phế quản-phổi có khuynh hướng tiến triển. Thuốc lá là nguyên nhân chủ yếu của COPD, bên cạnh đó còn có sự góp mặt của khói từ nhiên liệu sinh khối (biomass fuels). Biến đổi sâu sắc về cấu trúc hình thái và chức năng lớp biểu mô lông chuyển của niêm mạc đường hô hấp do tác động của khói thuốc lá, như đã nói ở phần trên là cơ sở khoa học của bệnh sinh của COPD. Biểu hiện của bệnh có những triệu chứng cơ bản: Ho khạc kéo dài, khó thở tăng dần, nặng ngực, chức năng thông khí bị hạn chế dòng khí thở ra cố định và dai dẳng, nặng dần lên theo thời gian và không hồi phục (chỉ số FEV1/FVC giảm mạnh). Tuy là bệnh của cơ quan hô hấp nhưng ảnh hưởng đến nhiều cơ quan khác do tình trạng thiếu oxi mạn tính, kéo theo các rối loạn chuyển hóa toàn thân. Trong quá trình diễn biến của bệnh, COPD thường xuyên có những đợt cấp (đợt bùng phát – Acute-excacerbations) làm cho bệnh nặng dần lên. Mỗi lần nặng lên như vậy sẽ làm chức năng phổi tồi tệ hơn. Kết cục của bệnh COPD là suy hô hấp mạn tính, suy tim và t ử vong. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới COPD gây ra 3,2 triệu ca tử vong mỗi năm (tức là kho ảng 5% tổng số ca tử vong trên toàn cầ u mỗi năm). Tại Việt Nam, các ca COPD chiếm tỷ lệ 7,1% ở nam và 1,9% ở nữ từ 40 tuổi trở lên.

Hình 4. Lòng phế quản bị hẹp lại.       Hình 5. Xquang ngực của COPD

IV. KẾT LUẬN

Tác hại của thuốc lá tới sức khỏe con người trên hầu hết các chức năng sống của cơ thể. Bởi lẽ khói thuốc lá cùng với một số chất trong hơn 7000 hóa chất chứa trong nó đã được đi vào quá trình chuyển hóa của cơ thể sống(1). Một khi đã vào chu trình chuyển hóa, chúng sẽ tác động lên toàn bộ cơ thể, không trừ một chức năng sống nào, không trừ một bộ phận nào của cơ thể. Bằng những tiến bộ khoa học hiện nay và từ những minh chứng thực tế, các chính sách vĩ mô nhằm hạn chế tác hại của thuốc lá phải được triển khai đồng bộ và quyết liệt từ sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ và sử dụng. Không thể đánh đổi lợi nhuận kinh tế và sức khỏe nhiều thế hệ của giống nòi người Việt. Mỗi người hãy tự nói không với thuốc lá, vì sức khỏe của mình, gia đình và cộng đồng.

Tài liệu tham khảo

  1. U.S. Department of Health and Human Services. The Health Consequences of Smoking— 50 Years of Progress: A Report of the Surgeon General, 2014. Atlanta, GA: U.S. Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Center for Chronic Disease Prevention and Health Promotion, Office on Smoking and Health, 2014.
  2. Thorton, DJ; Rousseau, K; MucGuckin, MA (2008). Structure and function of the polymeric mucins in airways mucus. Annual Review of Physiology. 70 (44): 459–486
  3. Atanasova, KR; Reznikov, LR (21 November 2019). Strategies for measuring airway mucus and mucins. Respiratory Research. 20 (1): 261.
  4. Yageta Y, Ishii Y, Morishima Y, Masuko H, Ano S, Yamadori T, Itoh K, Takeuchi K, Yamamoto M, Hizawa N. Role of Nrf2 in host defense against influenza virus in cigarette smoke-exposed mice .J Virol. 2011 May; 85(10):4679-90.
  5. National Toxicology Program. Tobacco-Related Exposures. In: Report on Carcinogens. Fourteenth Edition. U.S. Department of Health and Human Services, Public Health Service, National Toxicology Program, 2016.

 

  • Đang truy cập:1
  • Hôm nay: 9
  • Tháng hiện tại: 98629
  • Tổng lượt truy cập: 1
Địa chỉ: Số 15, đường Khuất Duy Tiến, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Email: ttdt.hvct1@gmail.com.
Liên hệ: 024.38543970