Hoàn thiện quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố - Vấn đề quan trọng trong nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

11:20 15/09/2026

Nghiên cứu, hoàn thiện và thực hiện hiệu quả quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chính là thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với hệ thống chính trị, góp phần thiết thực xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Vai trò quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố

Ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố là hạt nhân lãnh đạo then chốt của cấp ủy địa phương. Trong cơ cấu quyền lực của Đảng ở cấp tỉnh, giữa hai kỳ họp của ban chấp hành đảng bộ, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố giữ vai trò là cơ quan lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp bàn bạc, thảo luận và quyết định nhiều vấn đề hệ trọng liên quan đến sự phát triển toàn diện của địa phương. Vị trí này không chỉ mang tính tổ chức mà còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với hệ thống chính trị.

 

Cơ sở lý luận và pháp lý đối với việc hoàn thiện và thực hiện quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố xuất phát từ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các văn kiện Đại hội Đảng qua từng thời kỳ. Xây dựng và thực hiện quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố là yêu cầu và cũng là cả một quá trình đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đến nay, phản ánh cụ thể những yêu cầu khách quan trong từng giai đoạn lịch sử.

 

Ngay từ Đại hội II của Đảng (năm 1951), trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, Đảng đã xác định rõ cơ cấu tổ chức của cấp ủy, trong đó ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố được coi là hạt nhân lãnh đạo thường xuyên. Điều lệ Đảng khóa II quy định, giữa hai kỳ họp của ban chấp hành, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố có nhiệm vụ giải quyết công việc cấp bách, kịp thời; đồng thời bảo đảm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là bước khởi đầu quan trọng trong việc định hình mô hình tổ chức và hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố.

 

Đại hội III của Đảng (năm 1960), trong bối cảnh miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và miền Nam tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc, đã phát triển thêm cơ chế lãnh đạo của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố. Điều lệ Đảng khóa III nêu rõ, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố là cơ quan chịu trách nhiệm lãnh đạo toàn diện công tác thường xuyên ở địa phương, và nhấn mạnh vai trò của các cơ quan tham mưu, giúp việc nhằm bảo đảm các quyết định được cân nhắc, chuẩn bị chu đáo. Đây là bước phát triển cả về lý luận và tổ chức, nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày cao của sự nghiệp cách mạng.

 

Đại hội IV của Đảng (năm 1976), khi đất nước thống nhất, đã nhấn mạnh vai trò toàn diện của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố trong lãnh đạo chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương. Trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ban thường vụ cấp ủy được giao trách nhiệm tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, đồng thời phát huy tính chủ động sáng tạo trong lãnh đạo địa phương. Điều lệ Đảng khóa IV tiếp tục khẳng định nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đây là nền tảng để bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất và phát huy trí tuệ tập thể.

 

Bước sang Đại hội V (năm 1982) và Đại hội VI của Đảng (năm 1986), khi đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, Đảng đã chỉ rõ hạn chế của cơ chế lãnh đạo bao biện, làm thay và yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy. Các văn kiện Đại hội nhấn mạnh, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố phải gắn chặt với thực tiễn, phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách, đồng thời khắc phục bệnh quan liêu, hình thức. Đặc biệt, Đại hội VI của Đảng với tinh thần đổi mới đã đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức lý luận về công tác lãnh đạo của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố, nhấn mạnh tính dân chủ, khách quan và trách nhiệm trong các quyết định quan trọng.

 

Đại hội VII (năm 1991) và Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), trong bối cảnh đất nước đổi mới được khẳng định là con đường đúng đắn, Đảng ta đã cụ thể hóa hơn cơ chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố. Văn kiện Đại hội VII của Đảng nhấn mạnh, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố phải đề cao trách nhiệm cá nhân của từng ủy viên trong lĩnh vực phụ trách, khắc phục tình trạng tập thể hóa trách nhiệm dẫn đến né tránh, đùn đẩy. Đại hội VIII của Đảng tiếp tục phát triển, yêu cầu nâng cao chất lượng chuẩn bị và thảo luận trong ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố bảo đảm mỗi quyết định đều dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn.

 

Đại hội IX (năm 2001) và Đại hội X của Đảng (năm 2006) đi sâu vào việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Điều lệ Đảng sau Đại hội các khóa này khẳng định, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ họp ban chấp hành, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nghị quyết; tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ luật đảng. Đây là những quy định quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực lãnh đạo và siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.

 

Đại hội XI (năm 2011) và Đại hội XII của Đảng (2016), Điều lệ Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển các quy định trước đó, khẳng định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố. Bên cạnh đó, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 10-QĐi/TW, ngày 12-12-2018, “Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”(1). Đây là văn bản pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố, khắc phục một số bất cập trong thực tiễn, nhất là việc xác định mối quan hệ giữa ban thường vụ với thường trực tỉnh ủy.

 

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã bổ sung thêm cơ sở chính trị và pháp lý mới, nhấn mạnh yêu cầu: “Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(2). Đây chính là định hướng quan trọng để hoàn thiện và thực hiện quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

 

Như vậy, từ Đại hội II của Đảng (năm 1951) đến nay, trong tất cả các kỳ Đại hội, vai trò và trách nhiệm của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố luôn được khẳng định, bổ sung và phát triển phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Ở thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố đã đóng vai trò quyết định trong việc chỉ đạo công tác tổ chức kháng chiến, huy động lực lượng, lãnh đạo phong trào quần chúng. Bước sang giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, ban thường vụ ở các tỉnh, thành phố đã trở thành cơ quan chỉ huy trực tiếp, tổ chức lực lượng chính trị, quân sự, lãnh đạo phong trào cách mạng. Đến khi đất nước thống nhất, đặc biệt là từ công cuộc đổi mới do Đại hội VI của Đảng khởi xướng, vai trò của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố càng được đề cao trong lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế.

 

Trong bối cảnh hiện nay, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, trong đó nhấn mạnh yêu cầu: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”(3). Muốn thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, trước hết cần củng cố, hoàn thiện quy chế làm việc và nâng cao hiệu quả hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố - nơi trực tiếp hóa sự lãnh đạo của Đảng ở địa phương, gắn kết đường lối, chủ trương của Trung ương với thực tiễn cuộc sống.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn công tác Trung ương làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh_Ảnh: TTXVN

Thực trạng hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố hiện nay

 

Trong những năm qua, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố đã có nhiều đóng góp quan trọng, góp phần trực tiếp vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh ở địa phương. Cụ thể:

 

Trước hết, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố đã thể hiện rõ vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện ở địa phương. Các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của ban thường vụ thường xuyên bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa phù hợp với tình hình thực tiễn. Từ các nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới, đến các chủ trương về công tác cán bộ, xây dựng tổ chức đảng, đều cho thấy sự lãnh đạo sâu sát và kịp thời. Điều này giúp nhiều địa phương đạt tốc độ tăng trưởng khá, đời sống nhân dân được cải thiện, an ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ vững.

 

Thứ hai, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố đã góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Thông qua việc thảo luận tập thể, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố đã thống nhất ban hành nghị quyết, quyết định nhiều vấn đề quan trọng. Trong công tác cán bộ, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố đã xem xét, quyết định nhân sự các chức danh chủ chốt của hệ thống chính trị ở địa phương. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ từng bước được trẻ hóa, có trình độ, phẩm chất chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

Thứ ba, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố đã coi trọng công tác xây dựng Đảng, chú trọng củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên. Nhiều ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố đã chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện các nghị quyết Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII và XIII. Kết quả là nhiều tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên đã có chuyển biến tích cực trong tu dưỡng, rèn luyện, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

 

Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, thậm chí là có khuyết điểm, vi phạm. Đó là có nơi quy chế làm việc chưa được xây dựng đầy đủ, cụ thể, chưa phân định rõ ràng thẩm quyền giữa ban chấp hành, ban thường vụ và thường trực tỉnh ủy, thành ủy. Điều này dẫn đến tình trạng thường trực tỉnh ủy, thành ủy với sự tham gia của bí thư và các phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy, trở thành một “cấp lãnh đạo không chính danh” nhưng lại có vai trò quyết định, dễ dẫn tới việc cá nhân hoặc tập thể nhỏ lấn át tập thể ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy. Đây là một bất cập lớn, làm giảm tính dân chủ trong hoạt động lãnh đạo.

 

Một hạn chế khác là việc chuẩn bị nội dung để trình ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy thảo luận, quyết định chưa thật sự bài bản, khoa học. Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy, đứng đầu là ban tổ chức, ban tuyên giáo, ban nội chính, ủy ban kiểm tra và văn phòng tỉnh ủy phải chủ động nghiên cứu, đề xuất, tham mưu toàn diện. Thế nhưng, trên thực tế, có lúc, có nơi, các cơ quan này chỉ làm nhiệm vụ hành chính, "hợp thức hóa" ý kiến của thường trực tỉnh ủy, thành ủy hoặc bí thư tỉnh ủy, thành ủy. Hệ quả là ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy chỉ còn vai trò thông qua, chứ chưa thực sự là nơi tranh luận dân chủ, cân nhắc toàn diện trước khi ra quyết định.

 

Trong công tác cán bộ, hạn chế này càng thể hiện rõ. Thay vì để ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy tham mưu trên cơ sở yêu cầu và thực tiễn, nhiều khi xuất phát điểm lại là ý kiến chỉ đạo của thường trực tỉnh ủy, thành ủy hoặc cá nhân lãnh đạo chủ chốt, dẫn đến tình trạng áp đặt, hình thức dân chủ. Khi đó, ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy chỉ đóng vai trò hiện thực hóa ý kiến chỉ đạo, làm giảm vai trò lãnh đạo tập thể, đồng thời tạo kẽ hở, ngu cơ cho chạy chức, chạy quyền, cục bộ, thân quen.

 

Ngoài ra, ở một số địa phương, nguyên tắc tập trung dân chủ chưa được thực hiện nghiêm túc. Một số vấn đề quan trọng chưa được bàn bạc thấu đáo trong ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, thậm chí có hiện tượng "hợp thức hóa" quyết định đã có sẵn. Điều này làm giảm hiệu quả lãnh đạo, dễ dẫn đến sai lầm, khuyết điểm trong quá trình tổ chức thực hiện.

 

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nêu trên. Thứ nhất, là do một số cấp ủy, nhất là thường trực tỉnh ủy, thành ủy và cá nhân người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, chưa coi trọng việc phát huy trí tuệ tập thể, chưa thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Thứ hai, là do hệ thống văn bản quy định, hướng dẫn tuy đã khá đầy đủ, nhưng vẫn còn những khoảng trống, chưa quy định rõ ràng mối quan hệ giữa ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy với thường trực tỉnh ủy, thành ủy. Thứ ba, ở một số nơi, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc chưa được coi trọng, dẫn đến tình trạng “nói không đi đôi với làm”.

 

Những hạn chế trong hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố đã làm giảm hiệu quả lãnh đạo ở địa phương, dễ dẫn đến những quyết định chủ quan, duy ý chí, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Đặc biệt, trong công tác cán bộ, nếu để tình trạng cá nhân quyết định thay cho tập thể kéo dài, sẽ làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, cũng như tạo môi trường thuận lợi cho tham nhũng, tiêu cực. Đây là nguy cơ trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

 

Từ thực tế đó, đặt ra yêu cầu cấp bách phải tiếp tục hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả quy chế làm việc(4) của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố nhằm vừa phát huy trí tuệ tập thể, vừa đề cao trách nhiệm cá nhân, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng. Đây là nhiệm vụ mang tính chiến lược, gắn liền với yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, đồng thời có ý nghĩa thiết thực trong việc phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lạm quyền, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

 

Nâng cao năng lực lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố

 

Từ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố có thể rút ra một số vấn đề cần được nghiên cứu, giải quyết, nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố trong giai đoạn hiện nay:

 

Thứ nhất, vấn đề về tính chính danh và sự phân định thẩm quyền trong cơ cấu lãnh đạo. Theo Điều lệ Đảng, cơ quan lãnh đạo cao nhất ở cấp tỉnh là ban chấp hành Đảng bộ, giữa hai kỳ họp là ban thường vụ. Tuy nhiên, thực tế lại tồn tại thường trực tỉnh ủy, thành ủy gồm bí thư và các phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy. Dù không được quy định là một cấp lãnh đạo, song thường trực tỉnh ủy, thành ủy lại có ảnh hưởng và thẩm quyền nhất định. Trong nhiều trường hợp, thường trực tỉnh ủy, thành ủy trở thành nơi quyết định trước, còn ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy chỉ "hợp thức hóa". Tình trạng “lãnh đạo không chính danh nhưng lại hoạt động chính danh” này tiềm ẩn nguy cơ chuyên quyền, độc đoán, làm giảm vai trò tập thể ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy. Đây là vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn và xử lý bằng việc bổ sung, điều chỉnh quy định để phân định rõ vai trò, thẩm quyền.

 

Thứ hai, cần bảo đảm tính dân chủ thực chất trong hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố. Nguyên tắc tập trung dân chủ được coi là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, dân chủ mới dừng lại ở hình thức. Các cơ quan tham mưu chưa phát huy hết vai trò đề xuất, chuẩn bị phương án, dẫn đến ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố không có đủ căn cứ để thảo luận, lựa chọn. Quy trình thảo luận đôi khi rút gọn, quyết định được định sẵn theo ý chí cá nhân lãnh đạo đứng đầu. Nếu không khắc phục, tình trạng này sẽ triệt tiêu tinh thần dân chủ, làm suy yếu năng lực lãnh đạo tập thể và gây ra những quyết định sai lầm.

 

Thứ ba, vấn đề về mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo và trách nhiệm cá nhân. Trong hoạt động lãnh đạo, tập thể ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố có trách nhiệm chung, nhưng mỗi ủy viên lại phụ trách một lĩnh vực cụ thể. Đây vừa là điểm mạnh, vừa tiềm ẩn nguy cơ nếu không có cơ chế kiểm soát hợp lý. Thực tiễn cho thấy có nơi, trách nhiệm tập thể bị lấn át bởi cá nhân người đứng đầu; ngược lại, cũng có nơi “tập thể hóa trách nhiệm”, dẫn đến né tránh, đùn đẩy, không ai chịu trách nhiệm đến cùng. Đây là vấn đề cần được giải quyết bằng cách xây dựng quy chế rõ ràng, vừa đề cao trách nhiệm tập thể, vừa ràng buộc trách nhiệm cá nhân.

 

Thứ tư, vấn đề về vai trò tham mưu, giúp việc của các cơ quan chuyên môn. Theo quy định, các ban đảng và cơ quan tham mưu giúp việc có chức năng chuẩn bị, nghiên cứu, đề xuất để ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố xem xét, quyết định. Nhưng thực tế, một số nơi, các cơ quan này chỉ làm công việc hành chính, thiếu tính phản biện, sáng tạo, thậm chí bị chi phối bởi ý kiến chỉ đạo trước đó. Hệ quả là các quyết định của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố mất đi sự khoa học, khách quan và tính thực tiễn. Đây là bất cập cần khắc phục, bởi không có tham mưu chất lượng thì khó có thể có quyết định đúng đắn.

 

Thứ năm, vấn đề kiểm soát quyền lực và phòng, chống tiêu cực. Đại hội XIII, XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tuy nhiên, trong hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố vẫn còn kẽ hở để cá nhân lợi dụng quyền lực, áp đặt ý chí, tạo môi trường cho tiêu cực phát sinh. Nếu không kiểm soát chặt chẽ, những kẽ hở này có thể dẫn đến sai phạm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân.

 

Từ những vấn đề trên cho thấy, việc hoàn thiện và thực hiện quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lâu dài trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chỉ khi giải quyết căn cơ những vấn đề này, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố mới thật sự phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Đảng ở địa phương.

 

Đồng chí Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh thăm, kiểm tra thực tế tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Từ Sơn_Ảnh: baobacninhtv.vn

Trên cơ sở phân tích về lý luận, pháp lý, thực trạng và những vấn đề đặt ra, có thể đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện tốt hơn quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố như sau:

 

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố. Trung ương Đảng cần nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Điều lệ hoặc ban hành văn bản hướng dẫn để phân định rõ thẩm quyền giữa ban chấp hành, ban thường vụ và thường trực tỉnh ủy. Cần khẳng định vai trò tập thể lãnh đạo của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố, đồng thời xác định rõ phạm vi, giới hạn, thẩm quyền của thường trực cấp ủy tỉnh, thành phố để tránh chồng chéo, lạm quyền.

 

Thứ hai, phải đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố theo hướng phát huy dân chủ thực chất. Mọi vấn đề quan trọng, đặc biệt là công tác cán bộ, phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, có nhiều phương án để tập thể thảo luận, lựa chọn. Thảo luận trong ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố phải dân chủ, công khai, minh bạch, tránh tình trạng “bàn bạc hình thức, quyết định theo ý chí cá nhân”. Mỗi quyết định cần phản ánh trí tuệ tập thể, đồng thời thể hiện trách nhiệm cá nhân của từng ủy viên.

 

Thứ ba, phải nâng cao vai trò và chất lượng tham mưu của các cơ quan chuyên môn, giúp việc của cấp ủy. Ban tổ chức, ban tuyên giáo, ban nội chính, ủy ban kiểm tra và văn phòng tỉnh ủy, thành ủy cần chủ động nghiên cứu, tham mưu chất lượng, khoa học, toàn diện, không phải để “hợp thức hóa” ý kiến chỉ đạo. Chỉ khi các cơ quan tham mưu hoạt động đúng chức năng, hiệu quả, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố mới có đủ căn cứ khoa học để đưa ra quyết định đúng đắn.

 

Thứ tư, cần tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố. Phải quy định chặt chẽ quy trình, thủ tục thảo luận, ban hành nghị quyết, quyết định, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát, kiểm tra việc thực hiện. Cần phát huy vai trò của ủy ban kiểm tra, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong việc giám sát hoạt động của cấp ủy. Kiểm soát quyền lực không nhằm hạn chế mà nhằm bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng nguyên tắc, vì lợi ích chung.

 

Thứ năm, cần xây dựng đội ngũ ủy viên ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực lãnh đạo, quản lý giỏi, phong cách làm việc khoa học, dân chủ, gắn bó mật thiết với nhân dân. Mỗi ủy viên phải thực sự gương mẫu, nêu cao tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đặc biệt, người đứng đầu phải là trung tâm đoàn kết, biết phát huy trí tuệ tập thể, tôn trọng ý kiến khác biệt, kiên quyết chống áp đặt, chuyên quyền.

 

Thứ sáu, cần coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng cho các ủy viên ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố và đội ngũ cán bộ tham mưu. Trong bối cảnh mới, yêu cầu về năng lực lãnh đạo ngày càng cao, nếu không liên tục học tập, rèn luyện thì khó có thể đáp ứng nhiệm vụ. Đào tạo phải gắn liền với thực tiễn, chú trọng kỹ năng lãnh đạo, quản lý, phương pháp làm việc khoa học, khả năng phân tích, dự báo.

 

Hoàn thiện và thực hiện quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố là một yêu cầu khách quan, cấp thiết, gắn liền với mục tiêu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố là hạt nhân lãnh đạo then chốt ở địa phương, có vai trò quyết định trong việc cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

 

Tuy nhiên, để ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố thực sự phát huy vai trò, cần tiếp tục hoàn thiện quy chế làm việc, khắc phục những bất cập về tính chính danh, sự phân định thẩm quyền, bảo đảm dân chủ thực chất, nâng cao vai trò tham mưu, kiểm soát quyền lực và xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín. Đây không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa sống còn đối với sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay và những năm tới.

 

Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với công tác xây dựng Đảng nói chung, đối với hoạt động của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố nói riêng càng cao. Chỉ khi ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố thực sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động theo đúng nguyên tắc, đúng quy chế, mới có thể củng cố niềm tin của nhân dân, tập hợp và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045 như Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.

 

Do vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả quy chế làm việc của ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố chính là góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây cũng là vấn đề rất quan trọng nhằm nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước./.

 

-----------------------

(1) Quy định số 305-QĐ/TW, ngày 13-6-2025, của Bộ Chính trị, “Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương” thay thế Quy định số 10-QĐi/TW, ngày 12-12-2018, của Bộ Chính trị, “Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”

 

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 200

 

(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Sđd, t. I, tr. 111

 

(4) Quyết định số 330-QĐ/TW, ngày 13-6-2025, của Ban Bí thư, “Về việc ban hành Quy chế làm việc mẫu của tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương” thay thế Quyết định số 168-QĐ/TW, ngày 28-12-2018, của Ban Bí thư, “Về việc ban hành Quy chế làm việc mẫu của tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương”

 

Theo www.tapchicongsan.org.vn